Sinh sản & Phối giống

Ứng dụng kỹ thuật OPU (Ovum Pick up) trong việc sản xuất phôi bò in vitro

Kỹ thuật OPU là kỹ thuật giúp cho chúng ta thu nhận trứng từ những con bò cái sống có chất lượng tốt mà không cần phải sát hại chúng nhằm cung cấp những trứng có chất lượng tốt cho kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).

Kết hợp hai kỹ thuật OPU và IVF, chúng ta có thể sản xuất được hơn 50 con bê từ một con bò cái cho trứng trong 1 năm. Kỹ thuật OPU/IVP có thể được tóm tắt như sau: Thu nhận trứng từ những con bò cái có chất lượng tốt được tuyển chọn bằng phương pháp chọc hút với sự trợ giúp của máy siêu âm. Sau đó đến giai đoạn nuôi trứng trứng trưởng thành, thụ tinh và nuôi phôi cho đến giai đoạn morula hay blastocyst. Ở giai đoạn này những phôi có chất lượng tốt sẽ được chuyển vào trong cơ thể con bò nhận.

Tỉ lệ chết non, chết sơ sinh và bệnh tật ở bò nhân bản vô tính

Trong năm 2008, đánh giá rủi ro đầu tiên về an toàn thực phẩm của động vật nhân bản vô tính SCNT (somatic cell nuclear transfer) và con cháu của nó đã được thực hiện bởi tổ chức FDA (Food and Drug Administration) của Mỹ. Báo cáo này kết luận rằng nguy cơ từ việc tiêu thụ thịt và sữa có nguồn gốc từ động vật SCNT (ví dụ như heo, bò và dê) và con cháu của nó giống như ở vật nuôi thông thường. Các đánh giá rủi ro về sức khỏe động vật và tiêu dùng thực phẩm đã được thực hiện bằng phương pháp hệ thống tới hạn sinh học CBSA (Critical Biological Systems Approach) (Rudenko & Matheson, 2007; FDA, 2008). Với giả thuyết động vật khỏe mạnh sẽ tạo ra các sản phẩm thực phẩm an toàn dựa trên năm mức phát triển trong suốt cuộc đời của những con vật này đã được kiểm tra bởi CBSA.

Những kỹ thuật thuộc thế hệ thứ nhất của công nghệ sinh sản trên bò

Gieo tinh nhân tạo (GTNT) là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đầu tiên, đã được sử dụng hơn 200 năm. Là một công nghệ hiện đại, GTNT với tinh dịch tươi hoặc đông lạnh đã là kỹ thuật thành công nhất và công nghệ sinh sản hiệu quả trong chăn nuôi trong sáu thập kỷ qua. Sử dụng GTNT có một tác động lớn đến các chương trình cải thiện di truyền ở các nước phát triển, góp phần tăng 1,0 đến 1,5% tỷ lệ hàng năm của tiến bộ di truyền ở bò sữa (Lohuis, 1995). Thông qua các tiến bộ di truyền đạt được bằng cách sử dụng GTNT, ước tính rằng khoảng 50% việc tăng hiệu quả sản xuất sữa quan sát thấy ở các nước phát triển trong nửa sau thế kỷ 20, là nhờ phổ biến kỹ thuật GTNT hơn phối giống thông thường, với 50% khác là nhờ tiến bộ đáng kể trong hệ thống sản xuất bao gồm cả sức khỏe đàn gia súc, quản lý tổng hợp, và dinh dưỡng (Gordon, 1994).

Thế hệ thứ hai của công nghệ sinh sản trên bò

(a) Kỹ thuật đa xuất noãn và cấy truyền phôi (MOET).

Thế hệ thứ ba của công nghệ sinh sản

Rất nhiều lợi ích của kỹ thuật này đã được xác định khi so sánh với hệ thống sản xuất phôi truyền thống, đặc biệt khi chú ý đến giá thành sản xuất phôi như là yếu tố quan trọng nhất.

Đặc điểm tinh dịch và khả năng sử dụng bò đực Bogu bằng thụ tinh nhân tạo

Bogu là giống bò lai đã được ổn định giữa đực Xomba (tức Lagune) sừng ngắn (Tây Phi) với bò Zebu (chủ yếu là Fulani trắng). Bò Bogu phổ biến tại bang Bogu (CH Bênanh) và nhiều nước châu Phi, chịu đựng với Trypanosoma (nhờ có máu Xomba), sinh trưởng nhanh, cho sữa, cho thịt. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu đặc điểm tinh dịch và đánh giá khả năng sử dụng bò đực Bogu (thông qua TTNT) trong điều kiện nhiệt đới ẩm.

Trong phát hiện bò động dục và các biện pháp khắc phục khi bò không động dục

Trong chăn nuôi bò sinh sản bò sữa, việc phát hiện bò động dục chính sác để phối giống cho bò có ý nghĩa rất quan trọng nhằm nâng cao năng xuất chăn nuôi mặt khác hạn chế những rủi ro khi phải can thiệp làm hỏng bộ máy sinh sản của bò cái

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật siêu âm thu tế bào trứng từ bò sống để tạo phôi trong ống nghiệm

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỷ thuật, một kỷ thuật mới có thể thay thế được kỷ thuật gây rụng trứng nhiều là kỷ thuật thụ tinh ống nghiệm